Vùng Đoan Hùng có hai nhóm đất chính: đất đỏ vàng (feralit) trên đồi, chiếm phần lớn diện tích, và đất phù sa dọc sông Lô, sông Chảy, cùng dải đất ruộng trong các thung lũng. Đất đồi thường chua, nghèo dinh dưỡng dễ tiêu nếu không được chăm, dễ bị rửa trôi trên sườn dốc; đất bãi màu mỡ hơn nhưng chịu ngập theo mùa. Nhờ đất đồi thoát nước tốt và tầng đất dày ở nhiều nơi, vùng này hợp với chè, cây lâm nghiệp và cây ăn quả như bưởi.
Bài này dành cho người có đất ở Đoan Hùng, người mới mua đất vườn đồi, hoặc đơn giản là người muốn hiểu vì sao cùng một vùng mà vườn nhà này tốt, vườn nhà kia cằn. Nội dung gồm cách nhận biết đất, vì sao đất bạc màu, những biện pháp giữ đất theo nguyên lý chung, và lúc nào nên nhờ kiểm tra đất bài bản. Kỹ thuật trồng từng loại cây cụ thể nằm ở các mục khác của trang.
Đất đỏ vàng trên đồi hình thành thế nào
Đất feralit đỏ vàng là loại đất phổ biến nhất ở vùng đồi núi thấp miền Bắc. Nó hình thành khi đá mẹ bị phong hoá trong điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều kéo dài. Nước mưa rửa trôi dần các chất kiềm như canxi, magiê, kali ra khỏi lớp đất mặt, để lại nhiều sắt và nhôm. Chính sắt ô xít tạo nên màu đỏ, vàng đặc trưng của đất.
Quá trình ấy giải thích ba đặc điểm quen thuộc của đất đồi trung du: đất thường chua; lớp mùn mỏng nếu thảm thực vật bị phá; và một số nơi có tầng đá ong hoặc sỏi sạn ở bên dưới. Tầng đất có thể rất dày ở sườn thoải nhưng mỏng ở đỉnh đồi và sườn dốc đã bị xói.
Màu đất cũng nói lên một phần câu chuyện. Đất đỏ sẫm, tơi, có nhiều rễ cây và giun thường là đất còn tốt. Đất vàng nhạt, chặt, khi khô nứt nẻ, khi mưa đóng váng thường là đất đã bị rửa trôi nhiều. Đất lẫn nhiều sỏi trắng ở bề mặt là dấu hiệu lớp đất mặt đã mất.
Các loại đất thường gặp ở một thôn trung du
Bảng dưới mô tả các loại đất theo cách người làm vườn nhận biết bằng mắt và tay, kèm điểm mạnh, điểm yếu. Đây là mô tả định tính, không thay cho phân tích đất trong phòng thí nghiệm:
| Loại đất | Nhận biết | Điểm mạnh | Điểm yếu |
|---|---|---|---|
| Đất đỏ vàng sườn thoải | Màu đỏ nâu, tơi, tầng dày | Thoát nước tốt, hợp cây lâu năm | Chua, cần bổ sung hữu cơ |
| Đất đồi bạc màu | Vàng nhạt, chặt, lẫn sỏi | Vẫn trồng được cây lâm nghiệp | Nghèo dinh dưỡng, giữ nước kém |
| Đất ruộng thung lũng | Xám, dẻo khi ướt | Giữ nước, trồng lúa tốt | Có nơi úng, thiếu ô xy cho rễ cây ăn quả |
| Đất phù sa bãi sông | Nâu, mịn, tơi xốp | Màu mỡ, dễ làm | Ngập theo mùa, có thể bị lở |
| Đất vườn quanh nhà | Sẫm màu, nhiều mùn | Được bón hữu cơ lâu năm | Diện tích nhỏ |
Một gia đình có thể có cả năm loại đất trên. Khi mua hoặc thuê đất, nhìn vào loại đất là cách nhanh để hình dung mảnh đất ấy hợp làm gì và cần đầu tư cải tạo đến đâu.
Vì sao đất đồi bạc màu
Đất đồi bạc màu không phải do "đất xấu bẩm sinh" mà phần lớn do cách sử dụng. Nguyên nhân lớn nhất là xói mòn: khi sườn đồi để trống, mưa rào mùa hè cuốn lớp đất mặt giàu mùn xuống chân đồi. Chỉ sau vài mùa mưa, lớp đất quý nhất có thể mất đi đáng kể.
Nguyên nhân thứ hai là lấy ra nhiều mà trả lại ít. Trồng liên tục cây ngắn ngày như sắn trên đồi dốc, thu hoạch cả thân lá, không bón bù hữu cơ, làm đất nghèo dần. Khai thác rừng trồng xong đốt sạch thực bì cũng làm mất lượng chất hữu cơ lẽ ra trở lại đất.
Nguyên nhân thứ ba là đất bị nén chặt do đi lại, xe cộ, và lớp mặt bị đóng váng sau mưa. Đất chặt thì rễ khó đâm sâu, nước mưa chảy tràn thay vì ngấm xuống, xói mòn lại càng mạnh. Ba nguyên nhân này nối với nhau thành một vòng, và muốn cải thiện thì phải cắt vòng ấy ở nhiều điểm.
Cũng cần nhắc tới chuyện bón phân hoá học không cân đối. Bón nhiều đạm trong thời gian dài mà thiếu hữu cơ, thiếu vôi bù có thể làm đất chua hơn, kết cấu xấu đi, dù cây trước mắt vẫn xanh tốt. Hướng dẫn bón cụ thể cho từng loại cây nên hỏi cán bộ khuyến nông hoặc dựa vào kết quả phân tích đất, trang này không đưa liều lượng.
Giữ đất trên đồi: những nguyên tắc đã được kiểm nghiệm
Phủ đất quanh năm. Đất có lớp phủ, dù là cỏ, cây phân xanh hay rơm rạ, lá cây, ít bị mưa đập trực tiếp nên ít xói mòn hơn hẳn đất trống. Giữ lớp cỏ thấp giữa các hàng cây và phủ gốc bằng tàn dư thực vật là cách rẻ nhất.
Trồng theo đường đồng mức. Hàng cây chạy ngang sườn dốc như những bậc chắn nước, làm chậm dòng chảy và giữ đất lại. Trên sườn dốc, có thể làm bậc thang nhỏ hoặc băng cây xanh xen giữa các băng trồng.
Trả lại chất hữu cơ cho đất. Phân chuồng ủ hoai, phân xanh, tàn dư cây trồng giúp tăng mùn, cải thiện cấu trúc đất và khả năng giữ nước, giảm chua. Đây là nền tảng cho mọi biện pháp khác.
Hạn chế đốt thực bì. Đốt dọn đồi nhanh nhưng làm mất chất hữu cơ, làm đất trống và dễ gây cháy lan. Băm, rải thực bì theo hàng ngang sườn vừa giữ đất vừa trả dinh dưỡng.
Giữ rừng ở đỉnh đồi và khe suối. Vành cây ở đỉnh và dải cây dọc khe giúp điều tiết nước, giảm lũ quét nhỏ và giữ đất cho cả sườn phía dưới.
Đất và nước: vườn đồi khát nước vào mùa khô
Đất đỏ vàng thoát nước nhanh là ưu điểm trong mùa mưa nhưng thành nhược điểm trong mùa khô. Từ cuối thu sang hết mùa đông, mưa ít, gió hanh, lớp đất mặt trên sườn đồi khô rất nhanh. Cây lâu năm có rễ sâu chịu được, còn cây non, rau màu và cây ăn quả đang nuôi quả thì dễ thiếu nước.
Người làm vườn đồi xưa nay giải bài toán này bằng mấy cách: đào ao nhỏ hoặc hố giữ nước ở chân đồi, đắp bờ nhỏ quanh gốc cây để giữ nước tưới, phủ gốc dày để giảm bốc hơi, và trồng cây che bóng ở rìa vườn để giảm gió hanh. Ở những vườn đầu tư hơn, hệ thống tưới nhỏ giọt, tưới phun gốc giúp tiết kiệm nước và công.
Điểm chung của mọi cách là tăng khả năng giữ nước của chính đất, mà muốn vậy thì phải tăng mùn. Đất giàu hữu cơ giữ được nước lâu hơn hẳn đất nghèo. Đây là lý do việc bón hữu cơ, phủ đất ở các mục trên không chỉ để nuôi cây mà còn để vườn qua được mùa khô.
Đất phù sa ven sông: màu mỡ nhưng không vĩnh viễn
Đất bãi ven sông Lô, sông Chảy được bồi bởi phù sa mỗi mùa nước. Đây là loại đất dễ làm, tơi xốp, giàu dinh dưỡng, hợp với ngô, lạc, đậu, rau màu ngắn ngày. Người dân ven sông thường trồng một vụ màu trong mùa khô, rút đi trước mùa lũ.
Tuy nhiên, đất bãi không cố định. Có năm bãi được bồi thêm, có năm bị lở mất một phần do dòng chảy đổi hướng hoặc do khai thác cát gần đó. Bãi ở phía bờ lõm của khúc sông dễ bị lở, bãi phía bờ lồi dễ được bồi. Ai có đất bãi đều biết diện tích canh tác của mình có thể thay đổi theo năm.
Về pháp lý, đất bãi ven sông có quy định riêng về sử dụng và hành lang bảo vệ bờ. Trước khi đầu tư lâu dài như trồng cây lâu năm, xây công trình trên đất bãi, cần hỏi bộ phận địa chính của xã để biết mảnh đất được dùng vào việc gì và có hạn chế nào.
Tự đánh giá đất vườn nhà mình trong một buổi
Không cần thiết bị đắt tiền, người làm vườn có thể tự quan sát để biết đất mình đang ở tình trạng nào, trước khi quyết định có cần kiểm tra đất bài bản hay không:
- Đào một hố nhỏ sâu chừng nửa mét ở vài chỗ khác nhau trong vườn, quan sát màu đất, độ dày lớp đất sẫm màu trên cùng, có lớp sỏi hay đá ong bên dưới không.
- Bóp đất trong tay khi đất hơi ẩm: đất tơi, vỡ vụn là tốt; đất dính chặt thành khối hoặc rời rạc như cát đều cần cải thiện.
- Đếm giun và rễ cây trong một xẻng đất: có nhiều là dấu hiệu đất còn sống, có mùn.
- Đổ một ca nước xuống chỗ đất khô xem nước ngấm nhanh hay đọng lại; nước đọng lâu là đất chặt hoặc tầng dưới bí.
- Quan sát sau một trận mưa to: nước chảy theo đường nào, có kéo đất đục ra khỏi vườn không, chỗ nào đọng nước.
Làm lại các quan sát này mỗi năm vào cùng một mùa, ghi chép lại, bạn sẽ thấy đất đang tốt lên hay xấu đi theo cách mình chăm. Nếu thấy đất có vấn đề rõ hoặc định đầu tư trồng cây giá trị cao, nên lấy mẫu đất gửi cơ sở phân tích có chức năng hoặc hỏi cán bộ khuyến nông. Kết quả phân tích giúp bón đúng thứ đất cần thay vì bón theo thói quen.
Đất đai và câu chuyện của vùng đất
Nhìn lại lịch sử, chuyện đất đai ở Đoan Hùng đi theo nhịp chung của trung du phía bắc: từ rừng tự nhiên được khai phá dần, đến đồi sắn, đồi chè thời tập thể, rồi giao đất giao rừng cho hộ gia đình, mở ra vườn đồi, rừng trồng và vùng cây ăn quả. Mỗi giai đoạn để lại dấu vết trên đất, có nơi đất được bồi đắp, có nơi bị kiệt.
Ngày nay, giá trị của đất ở vùng này không chỉ nằm ở diện tích mà ở độ màu mỡ còn lại và cách nó được giữ gìn. Một vườn bưởi trên đất được chăm hữu cơ nhiều năm có giá trị khác hẳn một vườn trên đất đã kiệt. Người mua đất vườn đồi có kinh nghiệm thường hỏi kỹ đất đã trồng gì trước đó, đã bị đốt bao nhiêu lần, chứ không chỉ hỏi diện tích.
Giữ đất là việc chậm, không thấy kết quả sau một vụ. Nhưng đó là thứ tài sản truyền được cho đời sau, và với một vùng đất mà phần lớn diện tích là đồi như Đoan Hùng, cách đối xử với đất hôm nay quyết định vùng đất sẽ xanh hay bạc trong vài chục năm tới.
Câu hỏi thường gặp
Đất ở Đoan Hùng có chua không?
Đất đồi đỏ vàng ở vùng trung du nhìn chung có xu hướng chua do quá trình rửa trôi lâu dài. Mức độ chua khác nhau giữa các mảnh đất, nên nếu cần chính xác, bạn nên lấy mẫu đo độ chua. Bổ sung hữu cơ đều đặn giúp cải thiện tình trạng này theo thời gian.
Vì sao bưởi hợp đất Đoan Hùng?
Bưởi cần đất thoát nước tốt, tầng đất dày và nguồn nước tưới gần. Nhiều sườn đồi thoải và bãi cao ven sông ở Đoan Hùng có đủ các điều kiện đó, cộng với khí hậu có mùa đông lạnh giúp quả có đặc trưng riêng. Chi tiết về giống và cách trồng có ở mục bưởi.
Đất đồi bạc màu có cải tạo được không?
Có, nhưng cần thời gian. Phủ đất, trồng theo đường đồng mức, bổ sung phân hữu cơ, trồng cây phân xanh và hạn chế đốt thực bì là các biện pháp cơ bản. Sau vài năm, lớp đất mặt có thể dày và tơi xốp hơn, cây phát triển tốt hơn.
Đất bãi ven sông có trồng bưởi được không?
Có những chỗ bãi cao, ít ngập được dùng trồng bưởi, nhưng rủi ro ngập lũ và lở bờ phải tính kỹ. Rễ bưởi không chịu được ngập lâu. Trước khi trồng cây lâu năm trên đất bãi, cần xem mức ngập những năm trước và quy định sử dụng đất bãi.
Có nên đốt cỏ, đốt thực bì khi dọn đồi không?
Đốt nhanh và tiện nhưng làm mất chất hữu cơ, để đất trống dễ xói mòn và có nguy cơ cháy lan sang rừng, nhất là mùa hanh khô. Băm nhỏ, rải theo hàng ngang sườn là cách tốt hơn cho đất. Nếu buộc phải đốt, cần tuân thủ quy định phòng cháy của địa phương.