Chè là cây truyền thống trên đất đồi trung du Phú Thọ, trong đó có vùng Đoan Hùng: đồi chè thấp, hái búp theo lứa từ mùa xuân đến cuối thu, phần lớn bán búp tươi cho cơ sở chế biến, một phần được các hộ tự sao thành chè xanh để uống và bán lẻ. Thu nhập từ chè đều đặn theo tháng trong mùa hái, khác hẳn cây keo thu một lần sau nhiều năm.
Bài này giải thích vì sao cây chè hợp với vùng đồi, sự khác nhau giữa chè trung du lâu năm và các giống chè mới, nhịp làm việc của người trồng chè trong năm, hai con đường đi của búp chè, và những điều cần biết về an toàn khi dùng thuốc bảo vệ thực vật. Món ăn uống từ chè và chuyện chè xanh trong đời sống thường ngày thuộc mục ẩm thực của trang.
Vì sao đồi trung du hợp với cây chè
Cây chè ưa đất chua nhẹ, thoát nước tốt, khí hậu ẩm, có mùa đông lạnh vừa phải. Đất đồi feralit của trung du Phú Thọ đáp ứng khá đúng các điều kiện đó: đất chua, tơi, nằm trên sườn dốc nên không đọng nước. Độ ẩm không khí cao nhờ sông Lô, sông Chảy và những màn sương buổi sáng trong các thung lũng cũng giúp búp chè non mềm.
Chè lại là cây lâu năm, rễ ăn sâu, tán thấp phủ kín sườn đồi, nên giữ đất tốt hơn nhiều so với cây ngắn ngày. Trên những quả đồi đã bị khai thác cạn kiệt, trồng chè theo hàng đồng mức là một cách làm lâu đời của người trung du để vừa có thu nhập vừa giữ đất.
Lý do cuối cùng là công lao động trải đều. Không như lúa dồn việc vào vài đợt cấy gặt, chè cần người hái quanh mùa, mỗi lứa cách nhau vài tuần. Gia đình có người già, phụ nữ ở nhà có việc làm đều tay, và có tiền mặt chi tiêu hằng tháng.
Chè trung du lâu năm và chè giống mới khác nhau thế nào
Ở vùng chè Phú Thọ, người ta hay phân biệt chè trung du (giống cũ, trồng từ hạt, cây nhiều năm tuổi) với các giống chè chọn tạo hoặc chè cành trồng sau này. Bảng so sánh mang tính khái quát, đặc điểm cụ thể từng giống nên tham khảo khuyến nông.
| Tiêu chí | Chè trung du (giống cũ) | Chè giống mới (chè cành, giống chọn tạo) |
|---|---|---|
| Nguồn gốc cây | Trồng từ hạt, cây không đồng đều | Giâm cành, cây đồng đều |
| Năng suất búp | Thấp hơn | Cao hơn khi thâm canh đúng |
| Búp | Búp nhỏ, nhiều tuyết ở một số cây | Búp to, đều, dễ cơ giới hoá |
| Hương vị chè xanh | Nhiều người chuộng vị đậm, chát dịu | Tuỳ giống, có giống thơm nhẹ, hợp chế biến chè đen |
| Sức chống chịu | Chịu hạn, chịu đất xấu khá tốt | Cần chăm, bón đủ mới giữ năng suất |
| Tuổi đồi chè | Nhiều nương đã vài chục năm | Trồng mới hoặc trồng thay trong các đợt cải tạo |
Vùng Phú Thọ là nơi có cơ sở nghiên cứu chè lâu đời ở Phú Hộ, nơi chọn tạo nhiều giống chè đã được trồng rộng ở miền bắc. Nhờ vậy người trồng chè trong tỉnh tiếp cận giống mới tương đối sớm. Dù vậy, nhiều hộ vẫn giữ một phần nương chè trung du cũ để sao chè xanh uống trong nhà và bán cho khách quen.
Một năm của người trồng chè
Nhịp công việc trên đồi chè thay đổi theo mùa. Mốc tháng dưới đây là xu hướng chung ở trung du miền bắc, thực tế lệch theo thời tiết từng năm:
- Cuối đông: đốn chè (cắt tỉa tán) để cây nghỉ và ra búp đều vào mùa sau; dọn cỏ, bón phân hữu cơ, sửa lại rãnh giữ nước.
- Mùa xuân: những lứa búp đầu tiên sau đốn, búp non mềm, nhiều người cho là chè ngon trong năm.
- Mùa hè: mưa nhiều, nắng nóng, chè ra búp nhanh, sản lượng cao nhất, lứa hái dày; đồng thời sâu bệnh như rầy xanh, bọ cánh tơ, nhện đỏ phát triển mạnh.
- Mùa thu: búp chậm lại nhưng chè thơm hơn, thời tiết hanh khô hợp cho sao chè ở nhà.
- Đầu đông: kết thúc mùa hái, chuẩn bị đốn, bón và chống hạn cho cây qua mùa khô lạnh.
Chu kỳ hái cách nhau bao nhiêu ngày tuỳ giống, độ phì đất và thời tiết. Hái quá dày làm cây suy, hái quá thưa búp già, chè kém. Người làm chè lâu năm nhìn búp mà biết đến lứa, đây là kỹ năng khó ghi ra thành công thức.
Bán búp tươi hay tự sao: hai con đường của búp chè
Bán búp tươi. Hái xong trong ngày, cân bán cho điểm thu mua hoặc cơ sở chế biến gần nhà. Ưu điểm là nhanh, không tốn công chế biến, không cần lò. Nhược điểm là giá búp phụ thuộc người mua, và người trồng giữ lại phần giá trị nhỏ nhất của chuỗi.
Tự sao chè xanh. Một phần hộ sao chè bằng chảo gang hoặc tôn quay trên bếp củi, bếp điện, rồi vò, sao lại cho khô. Chè sao kỹ giữ được lâu, bán lẻ cho khách quen, người thân ở xa, giá trên mỗi cân búp quy đổi cao hơn. Đổi lại tốn nhiều công, cần tay nghề, và chất lượng phụ thuộc người sao.
Qua hợp tác xã hoặc liên kết. Một số nơi trong tỉnh hình thành hợp tác xã chè, có xưởng chế biến chung, quy trình sản xuất an toàn, đóng gói có nhãn. Người trồng bán búp theo tiêu chuẩn của hợp tác xã, giá ổn định hơn nhưng phải tuân thủ quy trình chăm sóc và ghi chép.
Thuốc bảo vệ thực vật trên chè: nguyên tắc an toàn
Chè là thứ ăn uống trực tiếp, lá được hái liên tục, nên câu chuyện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên chè luôn được người tiêu dùng chú ý. Với người trồng, nguyên tắc cốt lõi là: chỉ dùng thuốc có trong danh mục được phép sử dụng trên chè, đúng liều, và tuân thủ thời gian cách ly ghi trên bao bì, tức là số ngày từ khi phun đến khi được hái. Hái sớm hơn thời gian cách ly là đưa thuốc vào chén nước của người khác.
Quản lý dịch hại tổng hợp là hướng được khuyến nông khuyến khích: theo dõi đồng ruộng để chỉ phun khi mật độ sâu vượt ngưỡng, ưu tiên biện pháp canh tác như đốn đúng thời điểm, giữ cỏ ở mức vừa phải, dùng thuốc sinh học. Một số chương trình sản xuất chè theo tiêu chuẩn an toàn như VietGAP yêu cầu ghi chép mọi lần phun, bón.
Người phun thuốc cũng cần tự bảo vệ: quần áo dài, khẩu trang, kính, găng tay, không phun khi gió to, không ăn uống trong lúc phun, rửa sạch người sau khi làm. Bao bì thuốc bỏ vào nơi thu gom, không vứt xuống khe suối. Trang này không kê tên thuốc hay liều dùng; khi gặp sâu bệnh, hãy hỏi cán bộ bảo vệ thực vật hoặc khuyến nông ở xã.
Hái chè thuê: công việc mùa vụ của nhiều người trong làng
Ở những nương chè lớn, chủ nương không tự hái hết được, nhất là vào giữa hè khi búp ra dày. Họ thuê người hái theo ngày hoặc theo cân búp. Người đi hái thuê thường là phụ nữ trung niên, người lớn tuổi, học sinh dịp nghỉ hè, những người có thời gian rảnh nhưng không có nương riêng. Đây là một trong những nguồn thu nhập tiền mặt quen thuộc ở các xóm chè.
Hái chè trông nhẹ nhàng nhưng là việc nặng: đứng cả buổi trên sườn dốc, nắng chiếu thẳng, tay ngắt liên tục, gùi đầy búp nặng dần trên lưng. Người hái giỏi ngắt đúng tiêu chuẩn một tôm hai lá hoặc theo yêu cầu của chủ, không lẫn lá già, không bứt cả cành làm hỏng tán. Búp hái nhầu, để lâu dưới nắng bị ôi, nóng, giảm giá trị.
Nếu bạn đi hái thuê lần đầu, nên hỏi trước cách tính công, tiêu chuẩn búp, giờ bắt đầu và giờ cân búp. Mang nước uống, áo dài tay, nón, găng mỏng và đi sớm để tránh nắng gắt buổi trưa. Với chủ nương, trả công rõ ràng và đúng hẹn là cách giữ được người hái quen qua nhiều mùa, vì người hái giỏi ngày càng ít.
Ở chiều ngược lại, thiếu người hái là lý do nhiều nương chè bị bỏ lứa, búp già đi không bán được. Một số hộ chuyển sang hái bằng máy cầm tay hoặc máy đẩy ở những nương bằng, hàng chè đều; năng suất cao hơn nhiều nhưng búp lẫn lá già, chỉ hợp với chè nguyên liệu cho chế biến công nghiệp.
Thu nhập từ chè và những khó khăn hiện tại
Ưu điểm lớn của cây chè là dòng tiền đều: mỗi lứa hái là một lần có tiền. Với những gia đình không có người đi làm lương, chè giống như một khoản thu nhập tháng. Ngoài ra, hái chè tạo việc làm thời vụ cho người không có nương, được trả công theo cân búp.
Khó khăn cũng rõ. Nhiều nương chè trung du đã già, năng suất giảm, muốn trồng thay phải bỏ thu vài năm. Giá búp tươi phụ thuộc thị trường chế biến và xuất khẩu chè, có năm thấp đến mức nhiều hộ không mặn mà chăm. Lao động hái chè ngày càng thiếu và đắt vì người trẻ đi làm xa, trong khi hái máy chỉ hợp với nương bằng phẳng, giống búp đều.
Một số hộ trong vùng chuyển một phần đồi chè sang keo hoặc cây ăn quả, số khác cải tạo lại bằng giống mới, hoặc chuyển sang làm chè chất lượng cao bán lẻ. Không có lựa chọn đúng cho mọi nhà: phụ thuộc tuổi nương, độ dốc, công lao động và khả năng tìm người mua của mỗi hộ.
Đi xem đồi chè: điều khách ghé thăm nên biết
Với người ở thành phố, một buổi sáng sớm đứng trên đồi chè trung du nhìn sương tan trên các thung lũng là trải nghiệm dễ chịu. Mùa hè và đầu thu là lúc đồi chè xanh và có người hái nhiều nhất. Muốn đi vào nương nên xin phép chủ nương, đi theo lối mòn giữa hàng chè, không bẻ cành, không giẫm vào gốc.
Nếu muốn mua chè làm quà, nên hỏi người bán chè được hái từ lứa nào, sao bằng gì, sao bao lâu. Chè sao tay tốt thường cánh xoăn, màu xanh đen, mùi thơm cốm, pha nước xanh vàng, vị chát dịu rồi ngọt hậu. Chè có màu xanh quá tươi, mùi lạ hoặc để lại cặn bột dưới đáy ấm là những dấu hiệu nên dè dặt.
Cách tốt nhất để hiểu chè là ngồi uống một ấm với người làm chè. Họ sẽ kể vì sao chè nương này khác chè nương kia, vì sao lứa xuân và lứa thu khác vị, những điều mà không bài viết nào thay được.
Câu hỏi thường gặp
Chè Đoan Hùng có phải là chè Thái Nguyên không?
Không. Chè Thái Nguyên là tên gắn với vùng chè của tỉnh Thái Nguyên cũ, có chỉ dẫn và thương hiệu riêng. Chè trồng ở Đoan Hùng là chè của vùng trung du Phú Thọ; cách sao và hương vị có nét tương đồng nhưng là hai vùng sản xuất khác nhau.
Mỗi năm hái chè được bao nhiêu lứa?
Số lứa trong năm phụ thuộc giống chè, độ phì của đất, cách bón và thời tiết. Mùa hè chè ra búp nhanh nên các lứa sát nhau hơn, mùa thu thưa dần. Người làm chè thường căn theo độ dài búp và số lá chứ không theo số ngày cố định.
Làm sao biết chè mua về có an toàn không?
Bằng mắt thường không kiểm được dư lượng thuốc. Cách giảm rủi ro là mua của người sản xuất quen biết, hoặc sản phẩm của cơ sở có chứng nhận sản xuất an toàn và nhãn ghi rõ nơi sản xuất. Hỏi người bán về thời gian cách ly sau khi phun cũng là cách sàng lọc.
Đồi chè già có nên phá đi trồng keo không?
Đó là quyết định tuỳ từng hộ. Keo ít công nhưng thu sau nhiều năm và không cho tiền đều; chè cho tiền hằng tháng nhưng cần nhiều công. Hộ thiếu người làm thường chuyển sang keo, hộ có lao động và đầu ra tốt thường cải tạo lại chè.
Đốn chè là gì, vì sao phải đốn?
Đốn chè là cắt bớt tán chè vào mùa cây nghỉ để kích thích cây ra cành mới, giữ tán ở độ cao vừa tầm hái và làm búp ra đều. Có đốn nhẹ hằng năm và đốn đau sau nhiều năm khi nương đã già, mỗi kiểu ảnh hưởng sản lượng khác nhau.
Khách du lịch có thể tham gia hái chè không?
Một số hộ và hợp tác xã ở trung du có đón khách trải nghiệm, nhưng không có lịch cố định chung. Nếu muốn, hãy hỏi người quen ở địa phương hoặc hỏi trực tiếp chủ nương, đi vào sáng sớm, mặc áo dài tay và đội nón vì nắng đồi khá gắt.