Sông Lô qua vùng Đoan Hùng mang theo lượng cát lớn từ thượng nguồn, lắng lại ở những khúc nước chậm. Cát sông là vật liệu xây dựng được chuộng vì hạt sạch, cứng, nên khai thác cát trở thành một nghề có tiền ven sông: tàu hút, xà lan chở, bến bãi tập kết và xe tải đưa cát đi các công trình. Nghề này tạo việc làm và nguồn thu, nhưng khai thác quá mức hoặc sai chỗ làm lòng sông biến đổi, bờ sông sạt lở, ảnh hưởng đến đất canh tác và nhà cửa ven sông.
Bài này giải thích cát sông hình thành thế nào, vì sao khai thác cát gây sạt lở, cách nhà nước quản lý mỏ cát theo nguyên tắc chung, và những điều người dân ven sông nên biết để tự bảo vệ quyền lợi. Bài viết theo góc nhìn tìm hiểu, không bình luận về cá nhân hay doanh nghiệp cụ thể.
Cát sông Lô từ đâu mà có
Sông Lô bắt nguồn từ vùng núi phía bắc, chảy qua Hà Giang, Tuyên Quang rồi xuống Phú Thọ, nhận thêm sông Gâm và sông Chảy trước khi đổ vào sông Hồng ở khu vực Việt Trì. Suốt quãng đường đó, nước mưa và dòng chảy bào mòn đá núi, mang theo bùn, sỏi, cát xuống hạ lưu. Hạt nặng như sỏi lắng ở thượng nguồn, hạt cát lắng ở những đoạn sông chảy chậm hơn, hạt bùn mịn đi xa nhất.
Ở khu vực Đoan Hùng, sông Lô đã ra khỏi vùng núi cao, lòng sông rộng ra, dòng chảy chậm lại ở những khúc cong và chỗ hợp lưu với sông Chảy. Đó là điều kiện để cát lắng thành bãi giữa sông và bãi ven bờ. Mỗi mùa lũ, sông lại mang về một lượng cát mới, đồng thời có thể cuốn đi cát cũ; lòng sông vì vậy luôn biến đổi.
Điều quan trọng cần hiểu là cát không được bổ sung vô hạn. Các hồ thuỷ điện ở thượng nguồn giữ lại một phần lớn bùn cát trong lòng hồ, nên lượng cát về hạ lưu ít hơn trước. Khi lượng khai thác vượt quá lượng sông mang về, lòng sông bị hạ thấp dần, và đó là gốc rễ của nhiều hệ quả phía sau.
Cát sông khác cát đồi, cát nghiền ở chỗ hạt đã được nước mài tròn, ít tạp chất sét nếu được sàng rửa, nên được ưa dùng cho bê tông, vữa xây, trát. Nhu cầu xây dựng càng tăng thì áp lực khai thác cát sông càng lớn.
Vì sao khai thác cát quá mức gây sạt lở bờ
Hạ thấp lòng sông. Hút cát ở giữa dòng làm lòng sông sâu xuống. Bờ sông, vốn được lớp cát dưới chân đỡ, mất điểm tựa và trượt dần xuống hố sâu mới tạo ra.
Thay đổi hướng dòng chảy. Hố hút cát sâu hút dòng nước về phía nó, làm dòng chảy dồn vào một bờ, xói chân bờ đó mạnh hơn trước. Bờ bên kia có thể lại bồi lên.
Khai thác sát bờ. Hút cát sát chân bờ hoặc trong vùng cấm là nguyên nhân trực tiếp gây sạt mảng lớn, kéo theo đất canh tác, cây cối, có khi cả nhà ở.
Sóng tàu thuyền. Tàu hút, xà lan chở nặng đi lại nhiều tạo sóng đánh vào bờ đất yếu, làm bờ xói dần theo thời gian.
Mùa lũ khuếch đại. Khi bờ đã yếu, chỉ một trận lũ lớn là đủ để sạt cả đoạn dài. Nhiều vụ sạt lở được thấy vào mùa lũ nhưng nguyên nhân đã tích tụ từ trước.
Ai được khai thác cát và quản lý theo cách nào
Cát lòng sông là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý. Theo nguyên tắc chung của pháp luật về khoáng sản, tổ chức muốn khai thác phải có giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp, trong đó xác định khu vực, độ sâu, trữ lượng, thời hạn, phương tiện và các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ bờ. Việc cấp phép ở cấp tỉnh thường gắn với quy hoạch khoáng sản và đánh giá tác động đến lòng, bờ sông.
Mỏ cát được cấp phép phải cắm mốc giới, công khai phạm vi, khai thác trong thời gian quy định, lắp thiết bị giám sát hành trình cho phương tiện theo yêu cầu, và có bến bãi tập kết hợp pháp. Bến bãi chứa cát cũng phải có giấy phép, nằm ngoài hành lang bảo vệ đê, bờ theo quy định.
Khai thác ngoài phạm vi giấy phép, khai thác không phép, nhất là vào ban đêm, là hình thức vi phạm mà nhiều địa phương có sông lớn đều phải xử lý. Lực lượng kiểm tra gồm chính quyền xã, công an, cơ quan quản lý tài nguyên và đường thuỷ, phối hợp theo địa bàn.
Trang này không nêu số giấy phép, mỏ hay đơn vị cụ thể. Nếu bạn cần biết một khu vực trên sông có mỏ được cấp phép hay không, có thể hỏi UBND xã hoặc tra thông tin công khai của cơ quan quản lý tài nguyên cấp tỉnh.
Lợi ích và cái giá của nghề cát với địa phương
Nghề cát không đơn thuần tốt hay xấu. Bảng dưới đặt hai mặt cạnh nhau để người đọc hình dung vì sao đây luôn là chủ đề tranh luận ở các vùng ven sông.
| Khía cạnh | Lợi ích | Cái giá có thể phải trả |
|---|---|---|
| Kinh tế | Nguồn vật liệu cho xây dựng, giảm chi phí vận chuyển cho công trình trong vùng | Lợi ích tập trung vào số ít người, thiệt hại sạt lở rải cho nhiều hộ |
| Việc làm | Lái tàu, bốc xếp, lái xe, quản lý bến bãi | Việc làm phụ thuộc giấy phép, có thể dừng bất cứ lúc nào |
| Ngân sách | Thuế, phí, tiền cấp quyền khai thác khi mỏ hợp pháp | Chi phí kè bờ, di dời dân do sạt lở |
| Lòng sông | Nạo vét đúng chỗ có thể khơi thông luồng tàu | Hạ thấp lòng sông, đổi dòng, sạt bờ |
| Đường xá | Có cát cho làm đường nông thôn | Xe quá tải làm hỏng đường, bụi, rơi vãi |
| Sinh thái | Không đáng kể | Phá nơi sinh sản của cá, nước đục ảnh hưởng nuôi cá lồng |
Sự cân bằng phụ thuộc vào việc khai thác có đúng quy hoạch, đúng chỗ, đúng lượng hay không. Mỏ được quản lý chặt và khai thác trong giới hạn sông bù lại được thì lợi nhiều hơn hại; khai thác tràn lan thì cái giá luôn lớn hơn.
Người dân ven sông: dấu hiệu sạt lở và việc nên làm
Những hộ có đất canh tác, nhà ở, vườn bưởi sát sông Lô, sông Chảy là người thấy thay đổi sớm nhất. Dấu hiệu cần để ý gồm: vết nứt dọc theo bờ, chạy song song với mép nước; mép bờ dựng đứng hoặc hàm ếch, phía dưới bị khoét rỗng; cây ven bờ nghiêng dần ra phía sông; nước ở chân bờ xoáy mạnh bất thường; đất ruộng ven sông lún, sụt từng mảng.
Khi thấy các dấu hiệu đó, việc nên làm là báo ngay cho trưởng thôn và UBND xã, kèm ảnh chụp, thời điểm phát hiện. Không làm nhà, chuồng trại, không chất vật nặng sát mép bờ đã nứt. Trong mùa lũ, theo dõi thông báo của xã về khu vực nguy hiểm và sơ tán khi được yêu cầu.
Nếu nghi có khai thác cát trái phép gần bờ, đặc biệt vào ban đêm, người dân có quyền phản ánh tới chính quyền xã, công an hoặc qua đường dây nóng của cơ quan chức năng. Phản ánh có thời gian, vị trí, ảnh hoặc video càng cụ thể càng dễ được kiểm tra. Không nên tự đối đầu với phương tiện khai thác vì có thể gây xung đột nguy hiểm.
Với đất bị sạt lở đã mất, quyền lợi và hỗ trợ phụ thuộc vào chính sách hiện hành về thiên tai, đất đai. Giữ giấy tờ đất, ảnh chụp hiện trạng trước và sau sạt lở là căn cứ quan trọng khi làm việc với chính quyền.
Bãi cát, xe cát và đời sống làng ven sông
Ngoài lòng sông, nghề cát hiện diện trong đời sống làng qua bến bãi tập kết và đoàn xe chở cát. Bãi cát hợp pháp được đặt ở chỗ được cho phép, có đường ra vào, có che chắn. Bãi tự phát sát khu dân cư, sát đê hoặc trên đất nông nghiệp thì kéo theo bụi, tiếng ồn và nguy cơ sạt bờ khi cát chất nặng ngay mép sông.
Xe chở cát đi qua đường liên xã, đường thôn làm đường xuống cấp nhanh nếu chở quá tải; cát rơi vãi trên mặt đường gây trơn trượt cho xe máy, nhất là khi trời mưa nhỏ. Người đi đường ven sông nên giảm tốc ở những đoạn có bãi cát, chú ý xe tải ra vào bất ngờ.
Nhiều địa phương đã có quy định về giờ hoạt động của bãi, tải trọng xe trên đường nông thôn, yêu cầu phủ bạt thùng xe. Khi các quy định này bị bỏ qua, người dân có thể kiến nghị qua họp thôn và UBND xã.
Ở góc nhìn dài hạn, cát là tài nguyên hữu hạn. Nhiều nơi đang chuyển dần sang dùng cát nghiền từ đá cho xây dựng để giảm áp lực lên lòng sông. Đây là xu hướng chung của ngành vật liệu xây dựng, không chỉ riêng Phú Thọ.
Cát, cá và dòng sông: một bài toán chung
Khúc sông Lô qua Đoan Hùng cùng lúc là nơi khai thác cát, nơi nuôi cá lồng, nguồn nước tưới cho bãi màu, luồng tàu thuyền và cảnh quan gắn với di tích chiến thắng Sông Lô. Mỗi hoạt động có lợi ích riêng và cần dòng sông theo một cách khác. Khai thác cát làm nước đục và đổi dòng thì ảnh hưởng ngay người nuôi cá; bờ sạt thì mất đất bãi; luồng tàu bị lấn thì nguy hiểm cho mọi phương tiện.
Vì vậy chuyện cát không chỉ là việc của người khai thác và cơ quan cấp phép. Người nuôi cá, người trồng màu ven bãi, người dân sống sát bờ đều có quyền được biết về các mỏ cát gần mình, được tham gia ý kiến khi có dự án ảnh hưởng tới khúc sông, và được phản ánh khi thấy dấu hiệu bất thường.
Một dòng sông được chia sẻ hợp lý sẽ nuôi được nhiều nghề cùng lúc. Một dòng sông bị khai thác quá sức thì chỉ người khai thác hưởng lợi trong ngắn hạn, còn cả làng trả giá trong dài hạn.
Ở nhiều vùng ven sông khác của miền bắc, các tổ tự quản ven sông, các nhóm người nuôi cá, câu lạc bộ của thanh niên đã tham gia giám sát bờ sông, báo tin khi thấy phương tiện khai thác lạ. Cách làm này dựa trên lợi ích thật của người sống bên sông và hoạt động tốt khi được chính quyền xã ghi nhận, phản hồi kịp thời.
Câu hỏi thường gặp
Cát sông Lô có tốt hơn cát nơi khác không?
Cát sông nói chung, trong đó có cát sông Lô, được ưa dùng vì hạt tròn, cứng, ít tạp chất khi được sàng rửa. Chất lượng cụ thể còn tuỳ vị trí khai thác và kích cỡ hạt. Với công trình quan trọng, nên kiểm tra theo tiêu chuẩn vật liệu thay vì dựa vào tên sông.
Làm sao biết một tàu hút cát có giấy phép hay không?
Người dân thường không kiểm tra được trực tiếp. Có thể hỏi UBND xã về các mỏ được cấp phép trên địa bàn, phạm vi và thời gian hoạt động. Hoạt động ngoài phạm vi mốc giới, vào ban đêm hoặc sát bờ là những dấu hiệu nên phản ánh.
Đất ruộng ven sông bị sạt lở có được bồi thường không?
Sạt lở do thiên tai thường được xem xét hỗ trợ theo chính sách, không phải bồi thường như thu hồi đất. Nếu chứng minh được sạt lở do khai thác trái phép, có thể yêu cầu xử lý và bồi thường theo pháp luật. Cần ảnh chụp, giấy tờ đất và báo chính quyền sớm.
Có được tự lấy cát ở bãi sông về xây nhà không?
Cát lòng sông và bãi sông là khoáng sản do nhà nước quản lý, việc tự ý khai thác dù số lượng nhỏ có thể vi phạm quy định. Một số địa phương có hướng dẫn riêng cho nhu cầu nhỏ của hộ gia đình; hãy hỏi UBND xã trước.
Vì sao bờ sông bên này sạt mà bên kia lại bồi?
Dòng sông luôn xói ở phía bờ lõm, nơi nước chảy xiết, và bồi ở phía bờ lồi, nơi nước chậm. Khai thác cát làm thay đổi lòng sông có thể đẩy dòng chính dồn về một phía, khiến hiện tượng xói một bờ, bồi bờ kia mạnh hơn trước.