Với những làng nằm dọc sông Lô và sông Chảy ở vùng Đoan Hùng, dòng sông từng là trung tâm của đời sống: đò ngang là đường đi chợ, đi học, đi làm ruộng bên kia sông; chài lưới là nghề phụ của nhiều nhà; bãi bồi là ruộng màu màu mỡ nhất; và mùa lũ là nỗi lo thường trực mỗi năm. Ngày nay cầu đã thay nhiều bến đò, nhưng nếp sống sông nước vẫn còn trong ký ức và trong một phần sinh kế.
Bài này kể về con người ven sông, không phải về trận Sông Lô năm 1947 (đã có mục riêng), cũng không phải về kinh tế khai thác cát hay cá lồng (thuộc mục kinh tế). Đây là chuyện của những người lớn lên bên bờ nước: họ đi lại, làm ăn, sống chung với lũ, và nhìn dòng sông như thế nào.
Hai dòng sông chảy qua đời người
Sông Lô chảy từ phía bắc xuống, qua Tuyên Quang rồi vào đất Phú Thọ ở vùng Đoan Hùng, tiếp tục xuôi về Việt Trì để gặp sông Hồng. Sông Chảy từ phía tây bắc, qua vùng hồ Thác Bà, đổ vào sông Lô ngay trong vùng Đoan Hùng. Hai dòng sông này tạo nên những dải bãi bồi, những khúc quanh, những bến nước mà các làng ven sông bám vào.
Người ven sông phân biệt rất rõ hai mùa nước. Mùa cạn, khoảng từ cuối thu đến hết mùa xuân, nước trong, bãi lộ ra rộng, có thể trồng ngô, đậu, lạc, rau màu. Mùa lũ, khoảng từ đầu hè đến đầu thu, nước đục, chảy xiết, bãi ngập, có năm nước lên sát làng. Lịch sản xuất, lịch đi lại, cả lịch cưới xin của các làng ven sông từng phải xoay theo nhịp nước ấy.
Ngày nay, các hồ chứa thượng nguồn và các công trình điều tiết làm nhịp nước thay đổi phần nào so với xưa, nhưng người ven sông vẫn theo dõi mực nước như theo dõi thời tiết. Câu hỏi "nước lên chưa" vẫn là câu chào quen thuộc mỗi sáng mùa mưa.
Với trẻ con lớn lên ven sông, dòng sông vừa là sân chơi vừa là mối nguy. Ký ức tắm sông, câu cá, thả diều trên bãi đi liền với những lời dặn nghiêm khắc của cha mẹ về những khúc nước xoáy.
Bến đò ngang: con đường cũ qua sông
Trước khi có cầu, đò ngang là đường giao thông chính giữa hai bờ. Mỗi đoạn sông có vài bến đò, mỗi bến có người lái đò quen, đò chở người, xe đạp, rồi xe máy, cả trâu bò, nông sản. Người đi chợ phiên bên kia sông, học sinh đi học, nông dân sang ruộng bãi đều qua đò. Lái đò là nghề gắn với một gia đình, có khi truyền mấy đời.
Bến đò không chỉ là chỗ qua sông mà còn là chỗ gặp gỡ. Người chờ đò ngồi dưới gốc cây, hỏi chuyện nhau, mua bán vài thứ lặt vặt. Nhiều mối quan hệ, cả mối tình, bắt đầu ở bến đò. Trong ký ức người già, tiếng gọi đò vọng qua sông lúc chiều muộn là một trong những âm thanh quen thuộc nhất.
Từ khi có các cây cầu lớn qua sông Lô, sông Chảy, nhiều bến đò ngưng hoạt động hoặc chỉ còn phục vụ một số người ở xa cầu. An toàn đường thuỷ cũng được siết chặt: đò chở khách phải đăng ký, có áo phao, không chở quá tải. Nếu bạn còn gặp một bến đò đang hoạt động, hãy mặc áo phao và nghe lời người lái đò, nhất là mùa nước lớn.
Một số bến đò cũ nay chỉ còn lại tên gọi trong tên xóm, tên đường. Hỏi người già "bến đò ngày xưa ở đâu" là một cách hay để mở ra câu chuyện về làng.
Chài lưới: nghề phụ của làng ven sông
Quăng chài. Người đánh cá đứng trên thuyền nhỏ hoặc trên bờ, quăng tấm chài tròn xuống nước, kéo lên. Đây là kỹ năng phải học lâu: quăng sao cho chài xoè tròn, chìm đều. Cảnh người quăng chài lúc sáng sớm trên sông Lô là một hình ảnh người làm ảnh rất thích.
Thả lưới, đặt đó. Lưới thả ngang dòng, đó, lờ đặt ở ven bờ, chỗ nước chảy chậm. Nghề này thường làm vào buổi chiều, sáng hôm sau đi thu. Cá đánh được chủ yếu để ăn trong nhà và bán ở chợ làng.
Câu cá. Câu là thú vui của nhiều người đàn ông ven sông, cũng là nghề phụ khi cá được giá. Mùa nước lên, cá theo dòng nhiều hơn, người câu cũng đông hơn.
Nghề sông đang thay đổi. Nguồn cá tự nhiên trên sông nhìn chung giảm so với trước, do nhiều nguyên nhân như khai thác quá mức, thay đổi dòng chảy, ô nhiễm. Nhiều người chuyển sang nuôi cá lồng, làm nghề khác. Đánh bắt bằng xung điện, chất nổ bị pháp luật nghiêm cấm và bị người làng lên án.
Bãi bồi và vụ màu ven sông
Bãi bồi ven sông Lô, sông Chảy là phần đất được phù sa bồi đắp mỗi mùa lũ. Khi nước rút, bãi màu mỡ, tơi xốp, rất hợp trồng ngô, đậu, lạc, khoai, rau màu. Với các làng ven sông, ruộng bãi quan trọng không kém ruộng lúa: đó là nguồn thu nhập chính trong mùa khô, và nhiều gia đình có cả ruộng bãi lẫn vườn đồi.
Làm bãi là một kiểu canh tác đặc biệt: phải tính lịch nước. Gieo sớm quá thì đất chưa ráo, gieo muộn quá thì chưa kịp thu đã gặp lũ đầu mùa. Người làm bãi có kinh nghiệm đọc màu nước, đọc thời tiết, nghe tin mưa ở thượng nguồn. Năm nào lũ sớm bất thường, cả làng có thể mất một vụ.
Bãi bồi còn là nơi chăn trâu bò, nơi trẻ con thả diều, đá bóng mùa khô. Nhiều người lớn lên ở làng ven sông nhớ cảm giác chạy chân trần trên bãi cát mịn sau mùa lũ.
Ngày nay, một số bãi bị sạt lở, một số thay đổi do khai thác cát hoặc do dòng chảy đổi hướng. Chuyện giữ bãi, giữ bờ là mối quan tâm thường trực của người ven sông, và là đề tài hay được bàn trong các buổi họp thôn.
Sống chung với lũ: kinh nghiệm của người ven sông
Lũ là chuyện hằng năm với các làng ven sông Lô. Người dân có cả một kho kinh nghiệm: tôn nền nhà cao, làm gác để cất đồ, để sẵn thuyền nhỏ, dự trữ lương thực, theo dõi tin thời tiết và mực nước. Khi nước lên nhanh, họ chuyển người già, trẻ nhỏ, gia súc lên chỗ cao, thường là nhà người thân trên đồi, trường học hay nhà văn hoá.
Những trận lũ lớn để lại dấu ấn trong ký ức cả làng. Người già hay đánh dấu thời gian bằng các trận lũ: "năm lũ to", "năm nước vào tận sân đình". Có nhà còn giữ vạch nước đánh dấu trên tường, cột nhà.
Sau lũ là dọn bùn, sửa nhà, gieo lại vụ màu. Tinh thần tương trợ rõ nhất trong những ngày này: hàng xóm giúp nhau dọn dẹp, người trên đồi mang gạo xuống, các đoàn thể đi hỗ trợ. Với người ngoài, đây là mặt ít được thấy của đời sống ven sông, nhưng lại là thứ gắn kết cộng đồng chặt nhất.
Nếu bạn đến vùng ven sông vào mùa mưa, theo dõi tin dự báo, không đi lại ở bãi sông, bờ sông khi nước đang lên, không cố qua những đoạn đường ngập. Lời khuyên của người địa phương lúc ấy đáng giá hơn mọi bản đồ.
Thế hệ trẻ và dòng sông hôm nay
Người trẻ ở các làng ven sông Lô hôm nay có quan hệ với dòng sông khác hẳn cha ông. Họ đi qua sông bằng cầu, đi học, đi làm bằng xe máy, ít người biết quăng chài hay chèo đò. Phần lớn sinh kế của họ đã rời xa dòng nước: làm công nhân, làm dịch vụ, làm vườn đồi. Dòng sông với họ là phong cảnh, là chỗ đi dạo buổi chiều, chụp ảnh, hơn là nguồn sống.
Tuy vậy, sợi dây chưa đứt. Nhiều người trẻ vẫn về bờ sông câu cá cuối tuần, vẫn nghe ông bà kể chuyện bến đò, chuyện lũ, vẫn cảm thấy tự hào khi giới thiệu quê mình là "làng bên sông Lô". Một số người làm du lịch nhỏ, chụp ảnh, quay video về cảnh sông nước quê mình, góp phần giữ lại hình ảnh ấy.
Mối quan tâm mới của người trẻ là môi trường sông: rác thải trôi dạt, sạt lở bờ, chất lượng nước. Những phong trào dọn rác bờ sông, trồng cây chống sạt do đoàn thanh niên tổ chức ở nhiều nơi là dấu hiệu cho thấy dòng sông vẫn được coi là của chung, cần được giữ.
Với người đọc là con em Đoan Hùng đi xa, có lẽ không cần nói nhiều: chỉ cần nhắc tên sông Lô, ký ức tự khắc trở về. Ghi lại những ký ức ấy, kể cho con cháu nghe, là cách đơn giản nhất để nếp sống sông nước không mất hẳn.
Đến làng ven sông: cách đi, cách xem, cách nghe chuyện
Đời sống ven sông không phải điểm tham quan có vé, mà là làng thật. Vài gợi ý để bạn trải nghiệm mà không làm phiền:
- Đi vào mùa khô, khi bãi lộ, đường ven sông ráo, cảnh sông trong và rộng.
- Dậy sớm, ra bờ sông lúc bình minh; đó là lúc thấy người quăng chài, thuyền nhỏ, sương trên mặt nước.
- Hỏi người làng trước khi xuống bãi hay đi trên bờ đê nhỏ; có đoạn bờ sạt, nguy hiểm.
- Không tự ý lên thuyền của người khác, không giẫm lên ruộng bãi đang trồng.
- Nếu muốn nghe chuyện, tìm các cụ ngồi uống nước ở đầu làng, hỏi về bến đò, mùa lũ, nghề chài.
- Trẻ em đi cùng phải có người lớn kèm sát khi ở gần nước; không cho tắm sông.
Với người viết và người làm ảnh, làng ven sông Lô là một đề tài giàu chất liệu. Hãy dành thời gian, quay lại nhiều mùa, vì dòng sông mỗi mùa một khác và con người ven sông cũng vậy.
Câu hỏi thường gặp
Sông Chảy gặp sông Lô ở đâu?
Sông Chảy đổ vào sông Lô trong vùng Đoan Hùng, thuộc tỉnh Phú Thọ. Khu vực hợp lưu này tạo nên những bãi bồi và khúc sông rộng. Cách đi xem ngã ba sông được viết kỹ ở mục điểm đến và trải nghiệm của trang.
Ở Đoan Hùng còn đò ngang qua sông Lô không?
Nhiều bến đò đã ngưng khi có cầu, nhưng một số bến có thể vẫn hoạt động phục vụ người dân ở xa cầu. Tình hình thay đổi theo thời gian, nên hỏi người địa phương. Nếu đi đò, luôn mặc áo phao và không đi khi nước lớn.
Mùa lũ sông Lô thường vào tháng nào?
Mùa lũ thường rơi vào mùa mưa, khoảng từ đầu hè đến đầu thu, cao điểm vào giữa mùa mưa. Thời điểm và mức lũ mỗi năm khác nhau, phụ thuộc mưa thượng nguồn và việc vận hành các hồ chứa. Nên theo dõi tin dự báo chính thức.
Người ven sông Lô đánh bắt những loại cá gì?
Chủ yếu là các loại cá sông phổ biến ở miền Bắc như cá chép, cá trắm, cá mè, cá ngạnh, cá bống, cùng tôm tép. Nguồn cá tự nhiên đã giảm, nhiều nhà chuyển sang nuôi cá lồng. Món ăn từ cá sông được viết ở mục ẩm thực của trang.
Có nên tắm sông Lô khi đến chơi không?
Không nên. Sông Lô có nhiều đoạn sâu, dòng chảy mạnh, có xoáy ngầm, đáy thay đổi do bồi lở và khai thác cát. Mùa lũ càng nguy hiểm. Khách lạ không biết địa hình đáy sông tuyệt đối không nên xuống tắm.